Chuyện về đấu giá Bảo Việt

 

Cuộc đấu giá cổ phiếu Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) đã kết thúc với giá trúng thầu bình quân 73.910 đồng/cổ phiếu.

Phần tiếp theo của câu chuyện Bảo Việt mà giới đầu tư đang chờ đợi là liệu tổng công ty có bán hết 18% cổ phần cho đối tác chiến lược nước ngoài, như dự định trong đề án cổ phần hóa, với giá tối thiểu bằng giá trên không? Và thặng dư từ đợt bán đấu giá này sẽ được chia cho Bảo Việt như thế nào? Hay Nhà nước sẽ thu toàn bộ?

Giá mua để ngỏ

Một quỹ đầu tư tầm cỡ nước ngoài đã rút khỏi danh sách đăng ký cổ đông chiến lược của Bảo Việt ngay sau khi biết giá trúng thầu bình quân. Một quỹ khác thì nói họ dự đoán giá trúng thầu bình quân cao nhất khoảng 60.000 đồng/cổ phiếu. Đấy là có tính đến tiềm năng tăng trưởng và sức hút của thị trường chứng khoán Việt Nam.

 

Còn nếu đơn thuần phân tích tình hình tài chính của Bảo Việt, họ cho rằng giá sẽ hợp lý ở mức 35.000 – 40.000 đồng/cổ phiếu. Vấn đề mà họ băn khoăn là dường như giá trị phần vốn nhà nước tại Bảo Việt đã được xác định không chính xác.

 

Ông Lê Quang Bình, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Bảo Việt cho biết số lượng cổ phiếu mà đối tác chiến lược nước ngoài đăng ký mua hiện vượt quá mức mà tổng công ty sẽ bán ra. Nhưng đối tác chiến lược nước ngoài mua với giá nào, thì vẫn còn là câu hỏi để ngỏ. “Chúng tôi sẽ đàm phán với từng đối tác về giá, cân nhắc các điều kiện mà họ đặt ra và xin ý kiến Bộ Tài chính” – ông Bình nhấn mạnh. Như vậy, cầu cổ phiếu Bảo Việt từ phía nước ngoài luôn luôn có, nhưng cầu với giá nào lại là chuyện khác!

 

Trong danh sách cổ đông chiến lược nước ngoài của Bảo Việt có một số tập đoàn bảo hiểm quốc tế. Đây chính là những đối tác mà tổng công ty nhắm đến nhằm tìm kiếm sự hỗ trợ về công nghệ, chiến lược phát triển. Một vài trong số họ có văn phòng đại diện hoặc chi nhánh ở Việt Nam. Họ hiểu khá rõ về Bảo Việt.

 

Giám đốc kinh doanh của một công ty bảo hiểm nước ngoài xin giấu tên, phân tích: “Ngành bảo hiểm Việt Nam không có gì mới trong ba năm qua. Điểm yếu của bảo hiểm là nhân lực và nó vẫn chưa được cải thiện. Những nhân vật chủ chốt của các doanh nghiệp bảo hiểm chạy vòng vòng từ công ty này qua công ty khác. Bảo hiểm Việt Nam cần những gương mặt mới (fresh blood) để phát triển. Đầu tư vào Bảo Việt, do đó, sẽ khó có lợi nhuận cao trong ngắn hạn”.

 

Cụ thể, năm ngoái tăng trưởng lợi nhuận của Bảo Việt Nhân thọ chỉ khoảng 1,6% so với năm trước đó. Còn quí 1/2007 Bảo Việt đã phải nhường vị trí dẫn đầu trong bảo hiểm phi nhân thọ cho Tổng công ty Bảo hiểm Dầu khí.

 

Thặng dư và lợi nhuận

 

Một trong những yếu tố ảnh hưởng tới giá mua cổ phiếu Bảo Việt của đối tác chiến lược nước ngoài là xử lý phần thặng dư từ đợt đấu giá. Vốn điều lệ đăng ký của Bảo Việt trước khi cổ phần hóa là 3.000 tỉ đồng, nhưng thực chất chỉ có 900 tỉ đồng.

 

Khi tiến hành cổ phần hóa, Bộ Tài chính đã đồng ý để Bảo Việt trích từ lợi nhuận để lại và quỹ dự phòng rủi ro hơn 900 tỉ đồng, nâng vốn thật lên 1.848 tỉ đồng (nguồn: Báo cáo tài chính 2006 của Bảo Việt).

 

Khi xác định giá trị phần vốn nhà nước tại Bảo Việt, Công ty Kiểm toán Vaco đã dùng phương pháp chiết khấu dòng tiền và đưa ra giá trị phần vốn nhà nước là 4.430 tỉ đồng. Bảo Việt cổ phần hóa theo phương thức giữ nguyên phần vốn nhà nước và phát hành thêm cổ phiếu, tăng vốn lên 6.800 tỉ đồng. Nhà nước nắm giữ 65% vốn Bảo Việt.

 

Theo văn bản của Bộ Tài chính về sử dụng phần thặng dư từ bán cổ phiếu, thặng dư sẽ được phân bổ theo tỷ lệ cơ cấu vốn. Trong trường hợp đối tác chiến lược nước ngoài mua hết 18% cổ phần, cơ cấu vốn Bảo Việt sẽ là Nhà nước 65%, các đối tượng còn lại 35%.

 

Điều này có nghĩa 65% thặng dư tương đương tỷ lệ vốn nhà nước tại Bảo Việt sẽ trả về cho Nhà nước, tổng công ty được giữ lại 35%. Nhà nước sẽ “cắt” ngay 65% thặng dư, nhưng trong 35% thặng dư mà Bảo Việt được giữ, Nhà nước vẫn còn 65% của phần 35% đó với tư cách cổ đông lớn nhất.

 

Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu Nhà nước có cấp đủ cho Bảo Việt 1.152 tỉ đồng nữa để vốn điều lệ Bảo Việt trước cổ phần hóa đủ 3.000 tỉ đồng? Trên thực tế 1.152 tỉ đồng kia chỉ là trên giấy tờ, là số khống, nhưng nó lại được sử dụng như số thật khi xác định giá trị doanh nghiệp.

 

Bên cạnh đó giới đầu tư cũng chưa rõ khả năng tăng trưởng lợi nhuận của Bảo Việt trong năm nay sẽ như thế nào. Trên cơ sở giá trúng thầu vừa công bố và lợi nhuận 2006 công khai trong bản cáo bạch, chỉ số P/E của cổ phiếu Bảo Việt lên tới 158. Năm nay lợi nhuận sau thuế của Bảo Việt dự kiến 615 tỉ đồng (theo bản cáo bạch). Ông Nguyễn Quang Vinh, Tổng giám đốc BVSC dự đoán lợi nhuận sau thuế của tổng công ty có thể đạt 800 tỉ đồng. Ngay cả với mức lợi nhuận này, P/E của Bảo Việt vẫn cao: 62.

 

Điều đáng quan tâm là trong bản cáo bạch của Bảo Việt không hề đề cập đến quỹ dự phòng nghiệp vụ (bồi thường các tổn thất trong bảo hiểm). Năm 2004 Bảo Việt trích dự phòng nghiệp vụ 2.060 tỉ đồng, năm 2005 trích 1.860 tỉ đồng. Tổng dự phòng nghiệp vụ đến tháng 12/2005 là 11.249 tỉ đồng, trong đó 1.333 tỉ đồng cho bảo hiểm phi nhân thọ và 9.916 tỉ đồng cho bảo hiểm nhân thọ. Đến 31/12/2006 con số này tăng lên 12.575 tỉ đồng (nguồn: Báo cáo tài chính 2005, 2006).

 

Về nguyên tắc, số dự phòng này, khi các hợp đồng hết hạn vào thời điểm cuối năm, tổng công ty phải chuyển vào lợi nhuận. Một nhà đầu tư nước ngoài thắc mắc: “Bảo Việt hoàn toàn có khả năng chuyển một phần dự phòng nghiệp vụ của những năm trước vào lợi nhuận năm 2007 hoặc 2008. Chuyển bao nhiêu hoàn toàn phụ thuộc vào tổng công ty. Lợi nhuận sau thuế của Bảo Việt, vì thế, sẽ không chỉ là vài trăm tỉ đồng, mà có thể là hàng ngàn tỉ đồng/năm”.

 

Nếu những quan tâm này của đối tác chiến lược nước ngoài được giải đáp, chắc chắn Bảo Việt sẽ có lợi thế khi đàm phán về giá bán cổ phần.

 

Chuyện bên lề

 

Một trong những sự khác biệt của cuộc đấu giá Bảo Việt so với các cuộc đấu giá cổ phần trước đây là giới đầu tư đã không đưa ra mức giá chênh lệch quá cao. Tuy nhiên, ngoại lệ thì vẫn có.

 

Trong ngày nhập lệnh thứ hai, người ta đã phát hiện ra một lệnh đặt 100 cổ phiếu với giá ngất ngưởng: 30 tỉ đồng/cổ phiếu. Ngay lập tức cơ quan an ninh vào cuộc. Lệnh đó được đặt ở Vũng Tàu, người đặt có số CMND cấp từ năm 1978 tại Hải Dương. Lần theo dấu vết CMND, ở Vũng Tàu không có người nào như thế. Ở Hải Dương cũng không.

 

Một phỏng đoán: người sở hữu CMND đó đã từ Hải Dương vào Vũng Tàu sinh sống cách đây hàng chục năm và đã làm CMND khác. Cuối cùng cơ quan quản lý thị trường, được sự chấp thuận của cấp trên, đã quyết định không nhập lệnh đó vào hệ thống. Bởi nếu được nhập, giá trị cổ phiếu đấu giá sẽ tăng thêm 3.000 tỉ đồng và giá trúng thầu bình quân sẽ bị biến dạng !

Leave A Comment...