SAM WALTON – Tấm gương một nhà quản lý.

Sam Walton là người biết nắm cơ hội. Ông không giống bất kỳ ai, ông không bao giờ nói không thể và luôn tranh đấu với những gì bất thường. Trong cuộc đời, ông đã phải chịu khá nhiều khổ cực. Lớn lên trong khủng hoảng, phải tham gia vào một trận chiến khốc liệt. Chính vì vậy ông có lối sống tằn tiện và chăm chỉ. Ông là mẫu người luôn cần mẫn, cố gắng kiếm được nhiều tiền nhất và biết làm cháy lên những hoài bão để đi đến thành công. Điều này có thể giúp ta giải thích tại sao ông đã giúp gia đình vượt qua đợt khủng hoảng, bắt đầu kinh doanh từ hai bàn tay trắng. Ông đã đổi mới phương thức quản lý kinh doanh, trở thành một nhà quản lý kiểu mẫu.

Sam Walton sinh ngày 29 tháng 3 năm 1918 tại Oklahoma gần Kingfisher trong gia đình Thomas Gibson và Nancy Lee Walton. Sam Walton lớn lên cùng những hoài bão. Sau khi ghi danh vào trường cấp III Hickman tại Columbia, ở đây cậu đã chơi bóng rổ và bóng đá. Với vị trí một tiền vệ trong đội bóng của trường, vào năm 1935 cậu đã mang về cho đội giải vô địch quốc gia. Ở trường cậu không phải là cậu bé thông minh nhất nhưng lại luôn được coi là người có thể làm tốt mọi việc bởi tính chăm chỉ và có rất nhiều nghiên cứu. Chính vì vậy cậu đã trở thành một sinh viên danh dự của trường. Sam cũng là một hình ảnh nhà chính trị điển hình. Cậu vừa làm phó chủ tịch của khối sinh viên năm gần cuối và làm chủ tịch của khối sinh viên năm cuối. Ngoài giờ học, cùng với cha và em trai Sam còn phải giúp gia đình kiếm sống. Sam đã phải vắt sữa bò, đóng chai rồi phân phát tới người tiêu dùng. Với sự bươn trải và giàu kinh nghiệm sống, khi tốt nghiệp cấp III Sam đã trở thành “Cậu bé tháo vát nhất” trong lớp. Trong suốt thời gian này Sam đã phải tranh đấu giữa việc học và bỏ học để tìm một công việc ổn định. Suy nghĩ kỹ, nhìn lại những khó khăn gia đình đã phải chống chọi, Sam đã quyết định ở lại trường, ghi danh vào trường Đại học Missouri.

Tại trường Đại học Missouri Sam theo học chuyên ngành kinh tế. Vì không đủ tiền theo học cậu đã phải làm việc cật lực ngoài giờ để kiếm thêm tiền. Sam làm bồi bàn đổi lấy ba bữa ăn, làm nhân viên cứu hộ tại bể bơi của trường và thường đi giao báo vào buổi sáng. Sam cũng không quên làm những việc như một quản lý tại hội nam sinh, thành viên trong ban giám hiệu trường đại học, hoàn thành nghĩa vụ của một nhân viên trong công ty đào tạo nguồn nhân lực và vào ngày chủ nhật lại trở thành chủ tịch khối sinh hoạt sinh viên trong trường. Vừa hoàn thành tất cả công việc trên Sam vừa là thành viên trong tổ chức những nhân vật ưu tú của quốc gia. Năm 1940 khi tốt nghiệp Sam được bầu làm chủ tịch chính thức của lớp. Chỉ 3 ngày sau khi tốt nghiệp Sam đã ra nhập thị trường kinh doanh bán lẻ bằng việc làm tại cửa hàng Jc Penney ở Des Moines với tư cách học viên quản lý với mức lương 75$ một tháng.

Nhìn lại quá trình trưởng thành của Sam mọi người có thể thấy rõ tại sao ông có thể thành công và theo thời gian từ một cậu bé Sam nghèo khổ trong thị trấn nhỏ trở thành một trong những người giàu nhất thế giới. Ông đã tích luỹ được kinh nghiệm tại cửa hàng Penney. Ít lâu sau đó, vào đầu năm 1942 Walton đã nhẫn nhục cam chịu khi bị bổ nhiệm vào quân đội để phục vụ cho Chiến tranh Thế giới thứ II. Trong khi chờ đợi, Sam đã xin việc trong xưởng vũ khí quân trang DuPont gần Tulsa thuộc Oklahoma. Khi làm việc và sinh sống gần Tulsa, Sam đã gặp Helen Robson, người sau này đã trở thành vợ của ông. Helen sống trong một thị trấn nhỏ tên Claremore nơi cô theo học cấp III – trường Cấp III Claremore. Tạm biệt lớp học sau khi tốt nghiệp cô tiếp tục theo học trường Đại học Oklahoma tại Norman và tốt nghiệp ngành kinh doanh. Cha của Helen là L.S. Robson – một ông chủ ngân hàng phát đạt, một nhà chăn nuôi – người đã giúp Sam mở cửa hiệu đầu tiên. Sam và Helen đã gặp nhau vào tháng 4 năm 1942. Họ đã cưới nhau vào ngày 14 tháng 2 năm 1943. Năm 1944, bé trai đầu tiên đã ra đời tên Samuel Robson (Rob), năm 1946 là John Thomas, năm 1948 là bé James Carr (Jim) và tới năm 1949 là bé Alice.

Không lâu sau khi cưới, Sam phải vào phục vụ cho Cục tình báo quân đội Mỹ tại lục địa, giám sát an ninh tại xưởng máy bay và trở thành tù nhân trong trại chiến. Một thời gian sau đó, cuối cùng Sam cũng dứt bỏ được trách nhiệm với chiến tranh khi đang giữ chức vụ đại uý và ông đã quyết định mở một cửa hàng của riêng mình. Giấc mơ đã thành hiện thực vào mùa thu năm 1945 khi ông mua một cửa hàng tại Newport với sự giúp đỡ của cha vợ.

Cửa hàng của Sam nằm trong hai hệ thống cửa hàng độc quyền của Butler Brothers. Một mạng lưới cửa hàng thuộc liên bang. Đó là những cửa hàng nhỏ mà sau này đã được Ben Franklin đa dạng hoá. Cửa hàng của Sam cũng tiến hành đổi mới, với sự giúp đỡ của Butler Brothers nó đã trở thành cửa hàng dẫn đầu về doanh số bán và lợi nhuận trong khu vực 6 bang. Sam đã làm được điều tưởng như không thể đó là bán tất cả những hàng hoá tồn kho cho một khu vực rộng lớn với giá rẻ. Ngoài ra Sam luôn giữ cửa hàng nằm ở khu đông dân, do đó khách hàng luôn cảm thấy tiện lợi. Thêm vào đó nó luôn là cửa hàng đóng cửa muộn nhất so với hầu hết các cửa hàng khác. Đồng thời nó cũng được biết đến với rất nhiều đợt khuyến mại, chiết khấu (qua mua thẳng của người bán sỉ nên ông có thể giảm giá). Tất cả những ý tưởng này hoàn toàn mới trong kinh doanh, Sam đã nắm bắt rất nhanh để tạo ra lợi thế cho riêng mình. Vì thành công đạt được ở cửa hàng của Sam mà mọi người đều nhòm ngó nó. Chính vì vậy khi hợp đồng thuê cửa hàng đến hạn, ông chủ đã không muốn kí tiếp hợp đồng bởi ông muốn giao việc kinh doanh cửa hàng cho con trai ông. Sam đã bán cửa hàng và kiếm được một khoản lời trên 50.000$. Khi bán lại cửa hàng, kết thúc việc kinh doanh với ông chủ, Sam đã nhìn thấy một mục tiêu mới trong thị trấn, tuy nhiên ông không được may mắn lắm. Trong năm 1950 ông mua một cửa hàng ở Bentonville thuộc Arkansas và ông đã đặt tên nó là Walton 5&10. Cửa hàng này cũng là một thành viên trong hệ thống cửa hàng Ben Franklin thuộc Butler Brothers. Để giới thiệu cửa hàng tại thị trấn mới này, vào tháng 7 năm 1950 Sam đã vạch ra chiến dịch khuyến mại đầu tiên với tên gọi “Tiếp tục bán hàng giảm giá”. Trong suốt thời gian này Sam đã điều hành cả hai cửa hàng, một ở Newport, một ở Bentonville và mọi việc đều khá suôn sẻ. Walton 5&10 đã dần dần trở nên quen thuộc với mọi hoạt động trong thị trấn bởi Walton là chủ tịch của Câu lạc bộ Rotary và phòng thương mại tại thị trấn. Ông còn được bầu vào hội đồng thành phố và làm việc trong ban y tế. Năm 1954 ông mở ra một chương trình bóng chày với tên gọi Little League. Đó mới chỉ là một trong những hoạt động và thành quả mà Sam đã mang đến cho cộng đồng.

Để có thể thành công Sam nhận ra rằng cần phải có một quản lý gia có khả năng điều hành cửa hàng. Ông đã làm điều này bằng cách khéo léo lôi kéo những nhân tài đang làm việc ở các cửa hàng khác. Thành công đầu tiên của ông là Williard Walker – nguyên giám đốc của cửa hàng TG&Y. Ông đã lôi kéo Walker bằng cách chia một phần lợi nhuận của cửa hàng cho anh ta, cái mà giờ đây chúng ta gọi là sự phân chia lợi nhuận. Tuy nhiên khi có một quản lý mới thì không có nghĩa là Sam sẽ sao nhãng công việc đối với cửa hàng. Mỗi tuần ông đều tới tham quan cửa hàng để chắc chắn rằng công việc kinh doanh vẫn trôi chảy. Mỗi tháng một lần ông đều kiểm tra sổ sách và thảo ra một bản công bố những gì được và mất.

Để cửa hàng luôn dẫn đầu, Sam cố gắng tìm kiếm những ý tưởng mới cải thiện công việc kinh doanh tại cửa hàng. Sam đã nghĩ ra và áp dụng hình thức tự phục vụ (Self-service). Với hình thức này việc vào sổ số tiền thu được mỗi lần bán ở mỗi quầy hàng sẽ được thay thế bằng một quầy trả tiền duy nhất đặt ở trước cửa hàng – nơi khách hàng tới thanh toán một lần duy nhất. Ngoài ra Sam còn làm khách hàng khá thoải mái bởi một số hoạt động khác như: tập hợp nhiều loại hàng hoá, chiến dịch khuyến mại đặc biệt, giữ cửa hàng luôn sạch sẽ, sáng sủa, đội ngũ nhân viên trung thành, tận tụy (ông phân chia phần trăm lợi nhuận cho nhân viên).

Thời gian trôi đi và Sam – với sự giúp đỡ của cha vợ, anh vợ và em trai – ngày càng mở thêm được nhiều cửa hàng. Năm 1954, Sam cùng em trai mở cửa hàng nằm ngay trong trung tâm mua bán của Ruskin Heights – vùng ngoại ô gần thành phố Kansas. Cửa hàng thu được khá nhiều lợi nhuận, điều này đã thúc đẩy Sam tiếp tục tiến tới vùng Arkansas. Tuy nhiên ý tưởng này không mấy thành công, cửa hàng ở đây không thành công như những cửa hàng khác. Do đó Sam quyết định quay trở lại và tập trung vào việc kinh doanh bán lẻ thay cho việc kinh doanh ở những trung tâm mua bán. Sam đã mở những cửa hàng lớn hơn được gọi là Walton’s Family Center. Để giữ hoạt động quản lý kinh doanh ở các cửa hàng luôn tốt, Sam đã mở ra một cơ hội cho các quản lý gia trở thành hội viên có trách nhiệm hữu hạn nếu họ đầu tư vào cửa hàng mới mở được họ giám sát với ngân sách cao nhất là 100.000$. Điều này thúc đẩy giám đốc các cửa hàng luôn cố gắng giữ lợi nhuận ở mức cao nhất và không ngừng trau dồi kỹ năng quản lý của mình. Hướng phát triển của Sam thật đúng lúc và chiến lược và nó đã được chứng minh bằng thành công của ông – tới năm 1962 Sam và em trai Bud đã sở hữu 16 cửa hàng các loại tại Arkansas, Missouri và Kansas.

Wal-Mart đầu tiên được mở ra vào năm 1962 và trở thành cửa hàng bán lẻ nổi tiếng hàng đầu thế giới. Thành công của Wal-Mart đã mang đến cơ hội làm việc cho rất nhiều người – hơn 600.000 người Mỹ đang làm việc tại Wal-Mart. Nguyên nhân tại sao mà những thành công luôn luôn theo Sam: đó là do dòng máu của quê hương, mỗi người đều được People Greeters chào đón, mỗi cửa hàng đều được vinh dự nhận một suất học bổng cho nhân viên có thâm niên tốt nghiệp đại học, một phần doanh số bán của cửa hàng được sử dụng cho hoạt động từ thiện ở địa phương, giá cả luôn phải chăng và khách hàng không phải chờ đợi như khi mua hàng giảm giá. Đó chỉ là một trong những điều Wal-Mart đã mang đến cho người tiêu dùng. Wal-Mart chính là tâm huyết của Sam, là những gì mà Sam tin tưởng – “Mỗi cửa hàng Wal-Mart sẽ phản ánh giá trị của những khách hàng của nó; phải đáp ứng tốt những mong muốn của cộng đồng”. ý tưởng này luôn luôn nằm trong tâm niệm của Sam vì vậy những chương trình vươn tới cộng đồng của Wal-Mart luôn được điều khiển bởi những trợ lý người điạ phương.

Sam luôn tạo ấn tượng với mọi người. Ông đã làm rất nhiều cho người tiêu dùng. Thành công và phương thức hoạt động của ông đã vượt xa những gì mà những nhà quản lý khác từng làm và sẽ làm. Những nỗ lực của ông đã được công nhận vào tháng 3 năm 1992 – ông nhận được Huân chương Hoà Bình từ tổng thống George Bush. Trong buổi lễ long trọng này ông nói: “Chúng ta làm mọi việc cùng nhau; đó là bí quyết thành công. Chúng ta sẽ hạ thấp chi phí cuộc sống của mỗi người, không chỉ ở Mỹ. Qua đây chúng ta muốn nói với toàn thế giới rằng đó là cách tiết kiệm để xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người. Chúng ta tự hào về những gì đã làm được và tất cả mới chỉ là bắt đầu”.

Nguồn: chungta.com

Leave A Comment...